Đài Loan

Đài Loan

     KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VIỆT NAM TẠI ĐÀI LOAN

    Số lượng lao động Việt Nam giai đoạn 2009- 2013

                Đơn vị: người

    Năm

    2009

    2010

    2011

    2012

    9/2013

    Tổng số LĐNN tại ĐL

    351.016

    379.653

    425.660

    445.579

    475.006

    Tổng số LĐ Việt Nam

    78.093

    80.030

    95.463

    100.050

    119.744

                         Nguồn : UBLD Đài Loan, 2013

    II. CUNG ỨNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN VẪN SẼ LÀ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI 

    1. Cơ hội và thách thức 

     Trong thời gian trước mắt cũng như trong dài hạn, thị trường Đài Loan vẫn luôn là điểm đến quan trọng của lao động VN với cơ hội thuận lợi là cơ bản đó là:

    - Những chính sách phát triển kinh tế và thúc đẩy việc làm của Đài Loan trong giai đoạn vừa qua sẽ dẫn đến những năm tới tổng lượng lao động nước ngoài ngày càng gia tăng.

    - Phía Đài Loan xúc tiến ban hành và ngày càng hoàn thiện các chính sách nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động nước ngoài. 

    - Thị trường đã quá quen thuộc đối với lao động Việt Nam và nhiều doanh nghiệp đã có nhiều kinh nghiệm trong việc cung tiếp nhận lao động.

     Tuy nhiên, cung ứng lao động sang thị trường này, các doanh nghiệp cũng đối mặt với một số thách thức sau, đó là các thách thức về yêu cầu, như :

    -  Về số lượng nguồn cung: yêu cầu cao về số lượng và sự nhanh chóng, kịp thời thời gian cung ứng;

    -  Về chất lượng lao động (chủ yếu cần nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật, tôn trọng cam kết trong hợp đồng): Đài Loan phát triển mở rộng, kêu gọi đầu tư… không xa rời mục tiêu nâng cao chất lượng sản nghiệp (nâng cấp sản nghiệp), nên chất lượng lao động yêu cầu phải được ngày càng nâng lên tương xứng với đẳng cấp doanh nghiệp.

    - Các vấn đề tồn tại cần nhanh chóng khắc phục, đó là: từng doanh nghiệp cung ứng phải tự xác định bước đi trong việc chấn chỉnh, rà soát, cải thiện tình hình lao động bỏ hợp đồng và tình trạng  lao động bị thu phí còn cao của chính doanh nghiệp mình 

    2. Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết

    a) Một là, nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn lao động gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ.

    - Nâng cao chất lượng của cán bộ nhân viên công ty: với một thị trường đã có 14 năm xây dựng và phát triển thì bên cạnh việc nâng cao chất lượng nội dung thông tin bồi dưỡng theo hướng cập nhật và thiết thực ra, quan tâm đầu tư nâng cao kỹ năng của cán bộ, và cải tiến phương pháp giảng dạy. Đây là những vấn đề đóng vai trò quan trọng của sự thành công của công ty.

    - Minh bạch về thông tin; tạo dựng niềm tin với người lao động thông qua sự phục vụ và giữ chữ tín với người lao động.

    - Thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của nhà nước gần đây về vấn đề thu phí và giải quyết khiếu nại. Tạo được sự tin tưởng cho người lao động, hướng tới việc giảm chi phí cho người lao động.

    b) Hai là, tăng cường vai trò quản lý trong lĩnh vực này trên một số khâu cơ bản không dàn trải, có trọng tâm trọng điểm trong từng thời kỳ, đó là:

    - Chủ động trong việc sửa đổi bổ sung điều khoản hợp đồng, kịp thời với sự vận hành của tình hình thị trường, và với những quy định mới của pháp luật. 

    - Sớm bổ sung hoàn thiện Cẩm nang thị trường lao động Đài Loan được cập nhập thông tin phù hợp với sự biến động của thị trường với các nội dung thiết thực và được phổ biến rộng rãi, cấp phát cho mọi người lao động làm việc tại thị trường này.

    - Xây dựng chương trình đào tạo chuyên môn cho những cán bô làm công tác XKLĐ.

    c) Ba là, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền dưới nhiều hình thức, tổ chức và làm tốt công tác tư vấn cho người lao động và gia đình họ về việc XKLĐ làm việc tại Đài Loan kể cả trước khi đi, trong quá trình làm việc và khi trở về nước.

     Phát huy lợi thế công nghệ mạng hiện nay, công ty sử dụng website làm nơi cung cấp thông tin thị trường, nêu gương các công ty hoặc lao động tốt, đồng thời là nơi kết nối những người lao động đã đi làm việc ở Đài Loan về tiếp tục tham gia thị trường lao động trong nước hoặc ngoài nước khác. 

    d) Bốn là, coi trọng công tác hậu XKLĐ của người lao động làm việc tại Đài Loan trở về 

    Công tác này được công ty coi  như một trong các quy trình cơ bản quyết định để hạn chế tối đa những phát sinh không đáng có khi người lao động sắp hết thời hạn hợp đồng về nước và cũng là hoạt động nhằm tận dụng tối đa nguồn nhân lực lao động có trình độ, ngoại ngữ và nguồn lực vật chất của họ có được khi làm việc ở nước ngoài. Sẽ là hiệu quả khi nhà nước, doanh nghiệp tận dụng được nguồn lực đáng quý này
    Scroll